Điều kiện để được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy, chữa cháy?

Người gửi: Phạm Tiến Thành

Công an Sơn La cho tôi hỏi, doanh nghiệp chúng tôi mong muốn kinh doanh về dịch vụ kiểm tra định kỳ và bảo trì, bảo dưỡng hệ thống phòng cháy, chữa cháy và thi công thiết kế hệ thống phòng cháy, chữa cháy cho các cơ sở thì cần xin cấp giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy, chữa cháy như thế nào theo đúng quy định của pháp luật?

Câu trả lời

Theo quy định của Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành:

– Đối với việc kinh doanh dịch vụ về kiểm tra định kỳ và bảo trì, bảo dưỡng hệ thống phòng cháy, chữa cháy (PCCC) không thuộc ngành nghề kinh doanh dịch vụ về PCCC, do đó trường hợp doanh nghiệp bảo đảm điều kiện về con người, phương tiện, thiết bị (có người có chuyên môn kỹ thuật; có phương tiện, thiết bị phù hợp để thực hiện) thì được thực hiện theo quy định.

– Đối với ngành nghề: Thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và Tư vấn thiết kế về PCCC là ngành nghề kinh doanh dịch vụ về PCCC (ngành nghề kinh doanh có điều kiện). Do đó, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh ngành nghề trên sau khi được cơ quan Công an cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh về Thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và Tư vấn thiết kế về PCCC.

+ Điều kiện để được cấp Giấy xác nhận và hồ sơ đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ PCCC đối với ngành nghề thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và tư vấn thiết kế về PCCC thực hiện theo quy định tại Điều 41 và khoản 1 Điều 45 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.

+ Hiện nay, việc tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính về cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ PCCC được thực hiện trên môi trường điện tử, do đó Doanh nghiệp đăng ký tài khoản và nộp hồ sơ đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 12 Điều 45 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP trên Cổng dịch vụ công của Bộ Công an, địa chỉ: https://dichvucong.bocongan.gov.vn

Người trả lời: Công an tỉnh Sơn La




Hành vi chống đối, cản trở và gây nguy hiểm cho lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ bị xử lý như thế nào?

Người gửi: Đinh Công Huấn

Thời gian gần đây, nhiều người dân đang có chất kích thích trong người như rượu, bia tham gia giao thông bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra, kiểm soát, đo nồng độ cồn đã có những hành động không hợp tác, chống đối bất chấp gây nguy hiểm đến tính mạng của lực lượng Cảnh sát giao thông. Công an tỉnh Sơn La cho tôi hỏi, hành vi chống đối, cản trở và gây nguy hiểm cho lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ bị xử lý như thế nào?

Câu trả lời

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ) hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Điều 330 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội chống người thi hành công vụ.

Người trả lời: Công an tỉnh Sơn La




Đánh bạc bằng bánh kẹo, hạt dưa… sau đó quy đổi ra bằng tiền mặt vẫn sẽ bị xử lý

Người gửi: Lừ Hồng Sơn

Hiện nay, tôi thấy có nhiều hình thức đánh bạc ăn thua bằng hiện vật (như kẹo, hạt dưa, bánh quy…) sau đó quy đổi ra bằng tiền mặt. Công an Sơn La cho tôi hỏi, đánh bạc bằng hiện vật quy đổi ra tiền mặt như thế có bị xử lý vi phạm pháp luật hay không?

Câu trả lời

Theo Điều 321 Bộ luật hình sự 2017 quy định về tội đánh bạc như sau: Người nào đánh bạc trái phép duới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Tội phạm được thể hiện ở hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thu mua bằng tiền hay hiện vật. Hành vi đánh bạc được biểu hiện dưới bất kỳ hình thức nào được, thua bằng tiền mặt hay dùng hiện vật để quy đổi, hiện vật có thể là kẹo, hạt dưa, bánh quy, vàng, bạc, đá quý, xe máy, ô tô… Các hình thức đánh bạc có thể là đánh bài, tổ tôm, xóc đĩa, đánh ba cây, cá độ bóng đá. Hiện vật có sau khi chơi thắng được quy đổi ra bằng tiền mặt từ 5.000.000 đồng thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc số tiền, hiện vật quy đổi có giá trị dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Như vậy tất cả những trường hợp đánh bạc “thắng thua” bằng hiện vật rồi đổi thành tiền mặt thực chất đều là hành vi đánh bạc và đây là hành vi bị nghiêm cấm. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người thực hiện hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc trái phép có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người trả lời: Công an tỉnh Sơn La




Uống rượu bia dắt xe máy qua chốt kiểm tra nồng độ cồn vẫn có thể bị xử phạt theo quy định

Người gửi: Hoàng Khánh Ly

Công an tỉnh Sơn La cho tôi hỏi, người điều khiển xe gắn máy uống rượu bia khi thấy Cảnh sát giao thông hoặc chốt kiểm tra nồng độ cồn thì xuống dắt xe đi bộ nhằm tránh việc kiểm tra của lực lượng Cảnh sát giao thông thì có thể coi là hành vi đối phó với lực lượng chức năng hay không? Và việc uống rượu bia dắt xe máy qua chốt kiểm tra nồng độ cồn có bị xử phạt không?

Câu trả lời

– Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia, tại khoản 6 Điều 5 quy định nghiêm cấm hành vi “Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

– Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ), tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 đã quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với người điều khiến phương tiện giao thông đường bộ vi phạm trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Thời gian qua, lực lượng Cảnh sát giao thông đã xử lý quyết liệt vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông theo nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” với quyết tâm hình thành văn hóa “Đã uống rượu bia, không lái xe” trong quần chúng nhân dân. Đối với hành vi đối phó với lực lượng chức năng như xuống xe, dắt bộ xe mô tô qua chốt kiểm soát nồng độ cồn, lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, xác minh làm rõ hành vi vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.

Người trả lời: Công an tỉnh Sơn La




Người vi phạm giao thông không nộp phạt, bỏ lại xe của mình sẽ bị xử lý như thế nào?

Người gửi: Phạm Thị Phượng

Thời gian qua, khi lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn, tạm giữ rất nhiều phương tiện của người vi phạm. Sau đó, không ít trong số những người vi phạm nồng độ cồn đã bỏ lại xe, vì giá trị của chiếc xe không bằng mức phạt phải nộp. Từ thực tế trên, tôi xin hỏi, việc bỏ lại xe khi bị Cảnh sát giao thông tạm giữ sẽ ảnh hưởng như thế nào trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính sau này? Người vi phạm giao thông không nộp phạt, bỏ lại xe của mình sẽ bị xử lý như thế nào?

Câu trả lời

– Về trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người vi phạm, tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) cũng quy định: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

– Về xử lý phương tiện hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng, tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Trường hợp xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho họ 02 lần. Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Người trả lời: Công an tỉnh Sơn La