Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch về “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là thuật ngữ phổ biến trong đời sống chính trị, xã hội của nước ta trong thời gian gần đây. Thuật ngữ này được thể hiện sinh động qua nhiều bài viết, bài phát biểu, nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; các bài viết, phát biểu của lãnh đạo các cấp ở các diễn đàn, hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế… Đó chính là khát vọng lớn lao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta về sự quyết tâm vươn lên trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng và hạnh phúc.

Vậy mà, trước quyết tâm, khí thế của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta các thế lực thù địch phản động và đối tượng cơ hội chính trị đã sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn hòng tung ra những quan điểm sai trái, lệch lạc để xuyên tạc nội hàm “kỷ nguyên mới” và gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội. Một trong những phương thức hiệu quả mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng là sử dụng mạng Internet để đưa ra các thông tin bịa đặt dưới nhiều hình thức khác nhau như: Bài viết, phóng sự, kênh phát thanh, video sử dựng công nghệ AI… để xuyên tạc, phủ nhận ý chí, khát vọng và quyết tâm của toàn dân tộc trong thực hiện “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” bằng các dòng câu view, “giật tít” với tựa đề: Không thể có cái gọi là “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”; Việt Nam không có điều kiện và tiền đề để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới; Kỷ nguyên mới, đây chỉ là “Chiêu trò mị dân” mà không rõ cách thức, phương hướng để bước vào kỷ nguyên mới…

Đặc biệt, gần đây trên trang voatiengviet, Vũ Đức Khanh rêu rao rằng: “Nói kỷ nguyên mới – vươn mình của dân tộc, chỉ là sự khát vọng hão huyền, ảo tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; không có bất kỳ cơ sở khoa học và thực tiễn nào”. Hay trên trang facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cũng đăng nhiều bài viết của một số phần tử chống đối như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài,… với luận điểm “Việt Nam muốn “vươn mình trong kỷ nguyên mới” thì phải thực hiện dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập; Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ vai trò lãnh đạo độc tôn trong xã hội”…

Mục đích mà các thế lực thù địch hướng đến không gì khác là: Xuyên tạc chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng ta; làm cho các tầng lớp Nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào, tự tôn dân tộc để đưa đất nước phát triển vươn mình. Về lâu dài, khi những thông tin sai lệch này được đưa với tần suất, mức độ phủ sóng rộng khắp sẽ vô cùng nguy hiểm, nó sẽ trở thành “mưa dầm thấm lâu” thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ rằng: Thuật ngữ “Kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” không phải là một “khái niệm mù mờ, không có nội hàm rõ ràng”, không “chỉ là đề xuất của cá nhân người đứng đầu Đảng” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc. Trái lại, đây là một thuật ngữ có nội hàm rất ngắn gọn nhưng đầy sự rõ ràng, minh bạch mang đầy ý nghĩa và phản ánh một thời kỳ phát triển mới. “Kỷ nguyên mới” là kỷ nguyên phát triển bền vững và giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thuật ngữ “Kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” được Tổng Bí thư Tô Lâm sử dụng lần đầu tiên tại cuộc họp Tiểu ban Văn kiện chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV của Đảng vào ngày 13/8/2024. Tiếp đó là trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 10, khóa XIII, ngày 20/9/2024. Cùng với nhiều bài viết, bài phát biểu quan trọng sau đó của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã xác định chủ đề của Đại hội là “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Chúng ta cần khẳng định rằng: “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” là quy luật vận hành tất yếu của đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đến nay, đất nước ta đã hội tụ đủ thế và lực để đưa đất nước vào kỷ nguyên mới và kỷ nguyên mới không phải là một hành động chủ quan, duy ý chí mà dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng để phát triển vươn mình. Thế và lực đó được tích lũy từ thành tựu của sự nghiệp 40 năm đổi mới, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không những vậy, đất nước chúng ta còn sở hữu nhiều lợi thế để phát triển mạnh mẽ khi quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986; từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2024 đã đạt 476,3 tỉ USD, đứng thứ 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và top 20 quốc gia hàng đầu về thương mại, quan hệ quốc tế phát triển mạnh mẽ với 12 đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025…

Chính vì lẽ đó, khát vọng “vươn mình” trong “kỷ nguyên mới” không phải là “khát vọng hão huyền, ảo tưởng”, là mong muốn “chủ quan, duy ý chí của một số nhà lãnh đạo Việt Nam” như các thế lực thù địch xuyên tạc. Khát vọng đó có đầy đủ cơ sở khoa học, thực tiễn, dựa trên những nhận định, đánh giá toàn diện các điều kiện khách quan và chủ quan; vừa thể hiện ý chí của Đảng, vừa là khát vọng của toàn dân tộc, phản ánh sự hoà quyện giữa ý Đảng và lòng dân.

Để phản bác và bác bỏ các luận điệu sai trái, mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể Nhân dân cần hiểu đúng bản chất của “kỷ nguyên mới”. Chúng ta tin tưởng rằng: Với bề dày lịch sử bảo vệ Tổ quốc, nền tảng phát triển vững chắc đã đạt được, cùng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng suốt chiều dài lịch sử và sự đoàn kết của toàn thể Nhân dân, đất nước ta chắc chắn sẽ bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ.

Việt Anh




NHẬN DIỆN VÀ BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU ĐÒI VIỆT NAM TỪ BỎ CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỂ ĐI THEO “TƯ BẢN DÂN CHỦ”

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Một trong những luận điệu nguy hiểm nhất, được chúng liên tục tung ra, là đòi hỏi Việt Nam phải từ bỏ con đường XHCN để đi theo cái gọi là “tư bản dân chủ”. Luận điệu này không chỉ mang tính chất xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam, mà còn tiềm ẩn âm mưu lật đổ chính trị dưới vỏ bọc của những khẩu hiệu tự do, dân chủ hào nhoáng. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng và con đường đi lên của dân tộc, việc nhận diện đúng đắn và bác bỏ triệt để luận điệu phản động này là nhiệm vụ cấp bách và có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

I. BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU ĐÒI VIỆT NAM TỪ BỎ CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1. Luận điệu mang tính chất xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị của cách mạng Việt Nam

Những kẻ đưa ra luận điệu trên cố tình phủ nhận thực tế lịch sử: Sự lựa chọn con đường XHCN của Việt Nam không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và tìm kiếm con đường cứu nước suốt hàng thế kỷ. Từ phong trào Cần Vương, Đông Du đến các cuộc khởi nghĩa yêu nước đầu thế kỷ XX, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và đất nước bước vào kỷ nguyên mới – tất cả đều chứng minh rằng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường duy nhất đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ, giành độc lập, tự do.

Luận điệu phủ nhận con đường XHCN chính là âm mưu xóa nhòa công lao to lớn của các thế hệ cha anh đã đổ máu xương để giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng cố tình bỏ qua thực tế rằng chính dưới lá cờ XHCN, Việt Nam đã đánh thắng các đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, và đang không ngừng phát triển.

2. Luận điệu mang mục đích chính trị đen tối

Bản chất của luận điệu này không phải là sự quan tâm chân thành đến vận mệnh dân tộc Việt Nam, mà là một công cụ trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Mục tiêu cuối cùng không gì khác là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá vỡ thể chế chính trị hiện tại, để từ đó biến Việt Nam thành một quốc gia phụ thuộc, theo đuôi các cường quốc, phục vụ lợi ích địa chính trị của nước ngoài.

Các thế lực này lợi dụng sự bất đồng, sai lầm trong quá khứ, hoặc những khó khăn trong quá trình phát triển để phóng đại, bôi nhọ, từ đó xuyên tạc rằng con đường XHCN là “lỗi thời”, “không phù hợp”. Đây là thủ đoạn quen thuộc của chủ nghĩa đế quốc trong việc can thiệp công việc nội bộ của các quốc gia độc lập.

3. Luận điệu dựa trên sự giả định phi lý về “tư bản dân chủ”

Khái niệm “tư bản dân chủ” mà chúng quảng bá là một sự pha trộn mang tính lừa dối. Nó cố gắng tạo ra ảo tưởng rằng chủ nghĩa tư bản (CNTB) có thể tồn tại song song với một nền dân chủ thực sự cho toàn dân. Điều này hoàn toàn trái ngược với bản chất của CNTB, nơi quyền lực chính trị luôn nằm trong tay giai cấp tư sản, phục vụ lợi ích của các tập đoàn tài chính, độc quyền. Trong hệ thống chính trị tư sản, dân chủ chủ yếu là hình thức, là cuộc đua tài trợ tranh cử giữa các đảng phái đại diện cho các nhóm tư sản khác nhau, chứ không phải là dân chủ thực chất cho nhân dân lao động.

II. THỰC TIỄN VIỆT NAM CHỨNG MINH TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1. Thành tựu phát triển kinh tế – xã hội không thể phủ nhận

Kể từ Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường XHCN:

– Kinh tế tăng trưởng liên tục: Từ một nước nghèo đói sau chiến tranh, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có quy mô lớn trong ASEAN, thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng. GDP bình quân đầu người tăng gấp nhiều lần sau hơn ba thập kỷ Đổi mới.

– Xóa đói giảm nghèo thần kỳ: Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ trên 58% (năm 1993) xuống còn dưới 3% (theo chuẩn đa chiều hiện nay), được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

– Hội nhập quốc tế sâu rộng: Việt Nam là thành viên tích cực của Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC, WTO, và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, RCEP, CPTPP…), khẳng định vị thế độc lập, tự chủ trên trường quốc tế.

Những thành tựu này chứng minh rằng con đường XHCN ở Việt Nam không phải là lý thuyết suông, mà là hiện thực sinh động đang mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Dân chủ XHCN – dân chủ thực chất, dân chủ rộng rãi nhất

Ở Việt Nam, dân chủ không chỉ là khẩu hiệu mà là thực tiễn được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản mà không một chế độ tư bản nào có được:

– Dân chủ về kinh tế: Nhà nước khống chế các ngành then chốt, đảm bảo định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và phúc lợi xã hội.

– Dân chủ về chính trị: Quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện thông qua bầu cử, tham gia ý kiến vào các vấn đề của đất nước. Nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lực, không phải các tập đoàn tài chính.

– Dân chủ về xã hội: Chăm lo giáo dục, y tế, nhà ở, an sinh xã hội cho người dân như những quyền cơ bản, không phải như hàng hóa trên thị trường.

3. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng đã chứng minh năng lực lãnh đạo qua các quyết sách đúng đắn: từ kháng chiến chống thực dân, đến xây dựng CNXH ở miền Bắc, thống nhất đất nước, và công cuộc Đổi mới hiện nay. Sự tồn tại và phát triển của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho Việt Nam không rơi vào tình trạng bất ổn chính trị, phân hóa xã hội như nhiều quốc gia khác khi áp dụng mô hình “tư bản dân chủ”.

III. PHÂN TÍCH BẢN CHẤT VÀ HẬU QUẢ CỦA MÔ HÌNH “TƯ BẢN DÂN CHỦ”

1. “Tư bản dân chủ” là khái niệm mâu thuẫn, phi khoa học

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: Bản chất của CNTB là bóc lột giá trị thặng dư, sự thống trị của tư bản tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Trong xã hội tư bản, quyền lực chính trị luôn gắn liền với quyền lực kinh tế. Các tập đoàn tài chính, công nghiệp, truyền thông chi phối mọi quyết định chính trị quan trọng. Vì vậy, khái niệm “tư bản dân chủ” là một sự mâu thuẫn về mặt lý luận – giống như việc cố gắng gắn nhãn “dân chủ” lên một hệ thống vốn dĩ sinh ra để phục vụ thiểu số người giàu có bóc lột đa số người lao động.

2. Thực tiễn đau thương từ các quốc gia áp dụng mô hình này

Lịch sử thế giới cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã chứng kiến nhiều quốc gia từ bỏ XHCN để đi theo con đường tư bản hóa với lời hứa về “dân chủ” và “thịnh vượng”. Kết quả là:

– Suy thoái kinh tế: Nhiều nước Liên Xô cũ và Đông Âu đã trải qua thời kỳ suy thoái kéo dài, GDP giảm sâu, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân sa sút nghiêm trọng sau khi chuyển đổi.

– Bất ổn chính trị: Các cuộc cách mạng màu, xung đột sắc tộc, chia rẽ lãnh thổ xảy ra liên miên. Ukraine, Gruzia, các nước Trung Á là những ví dụ điển hình.

– Gia tăng bất bình đẳng: Tài sản quốc gia bị tư nhân hóa, tập trung vào tay một nhóm người nhỏ, trong khi đa số người dân rơi vào cảnh nghèo đói, bị loại bỏ khỏi hệ thống an sinh xã hội.

– Mất độc lập dân tộc: Nhiều quốc gia trở thành vệ tinh chính trị, phụ thuộc kinh tế vào các cường quốc phương Tây, không còn tiếng nói độc lập trên trường quốc tế.

Những hệ quả này là bài học cảnh tỉnh sâu sắc, cho thấy việc từ bỏ con đường XHCN để đi theo “tư bản dân chủ” đồng nghĩa với tự sát chính trị và thảm họa xã hội.

3. Thủ đoạn lừa dối qua ngôn ngữ

Các thế lực thù địch thường sử dụng các khái niệm như “dân chủ toàn diện”, “đa nguyên đa đảng”, “xã hội dân sự” như những chiêu bài để tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, gán cho mô hình đa đảng tư sản ở phương Tây là “dân chủ đích thực”, trong khi phủ nhận dân chủ XHCN của Việt Nam. Đây là sự giả dối có chủ đích, bởi lẽ dân chủ không thể đo bằng số lượng đảng phái, mà phải đo bằng mức độ tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước, và bằng việc chính sách có thực sự phục vụ đa số hay không.

IV. VIỆT NAM ĐANG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ ĐẦY ĐỦ HƠN

1. Đổi mới là tự hoàn thiện, không phải từ bỏ

Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam không phải là sự từ bỏ XHCN, mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước. Việt Nam kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đồng thời không ngừng hoàn thiện thể chế, khắc phục những hạn chế trong quá trình phát triển.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam là một sáng tạo lớn, kết hợp được sức mạnh của thị trường với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội và tiến bộ. Đây là con đường đi lên phù hợp với xu thế thời đại và điều kiện Việt Nam.

2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Đảng và Nhà nước Việt Nam đang tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm; quyền lực nhà nước được kiểm soát chặt chẽ; tham nhũng, lãng phí bị đẩy lùi. Các cải cách về tư pháp, hành chính, bầu cử đang được thực hiện mạnh mẽ để dân chủ đi vào cuộc sống một cách thực chất hơn.

3. Không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân

Dân chủ không chỉ là dân chủ kinh tế, chính trị, mà còn là dân chủ trong đời sống văn hóa, tinh thần. Việt Nam bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật, tạo môi trường để mọi công dân phát triển toàn diện.

* Luận điệu đòi Việt Nam từ bỏ con đường XHCN để đi theo “tư bản dân chủ” là một luận điệu phản động, phi khoa học, xuyên tạc lịch sử và thực tế. Bản chất của nó là phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ chế độ XHCN, phá vỡ sự ổn định chính trị của Việt Nam, biến Việt Nam thành quốc gia phụ thuộc.

Thực tiễn hơn 35 năm Đổi mới và gần 80 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã chứng minh một cách sống động: con đường XHCN là con đường duy nhất đúng đắn, đưa dân tộc Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dân chủ XHCN của Việt Nam là nền dân chủ thực sự, dân chủ cho nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – điều mà “tư bản dân chủ” không bao giờ có được.

Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của các luận điệu phản động, kiên định niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường XHCN, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

BT




BÓC TRẦN THỦ ĐOẠN ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM, KÍCH ĐỘNG TÂM LÝ, ÂM MƯU “CÁCH MẠNG MÀU” LIÊN QUAN ĐẾN KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT QUỐC GIA NĂM 2026

Thời gian gần đây, lợi dụng một số sự việc phức tạp liên quan đến công tác quản lý giáo dục và thi cử phát sinh tại Việt Nam cũng như một số biến động xã hội ở nước ngoài, các tổ chức phản động, đối tượng thù địch – đặc biệt là trang mạng facebook “Việt Tân” đã liên tục đăng tải các bài viết có nội dung quy chụp, xuyên tạc bản chất vấn đề. Điển hình là bài viết có tiêu đề “Bê bối thi cử giống nhau, cách hành xử khác nhau”, so sánh khập khiễng giữ một số sự việc tiêu cực phát sinh trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2026 tại Việt Nam và các cuộc biểu tình tự phát tại New Delhi (Ấn Độ) vào tháng 7/2026.

Bài đăng trên trang facebook “Việt Tân” và một số bình luận tại bài đăng có liên quan

Bằng thủ đoạn cắt ghép thông tin, lợi dụng tâm lý hiếu kỳ và bức xúc bộc phát của một bộ phận người dân trên không gian mạng, các thế lực thù địch cố tình rêu rao rằng “cùng một căn bệnh nhưng diễn biến sự việc hoàn toàn trái ngược”, từ đó gián tiếp cổ xúy cho tư tưởng xuống đường biểu tình, gây rối an ninh trật tự, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là một phương thức chống phá nguy hiểm, mang tính chất của chiến tranh tâm lý, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phải nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện và đập tan mọi âm mưu chia rẽ.

I. BÓC TRẦN BẢN CHẤT CỦA THỦ ĐOẠN “ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM” VÀ SO SÁNH KHẬP KHỄNH

Lý luận về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã nhiều lần chỉ rõ: Quy luật hoạt động chống phá của các thế lực thù địch thường bắt đầu bằng việc “lựa chọn hiện tượng đơn lẻ để quy chụp thành bản chất hệ thống”, kết hợp với phương pháp “ngụy biện so sánh khập khễnh” nhằm hướng lái dư luận theo mục đích chính trị đen tối.

1. Sự khác biệt căn bản về thể chế chính trị, môi trường pháp lý và văn hóa xã hội

Mỗi quốc gia có thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế và đặc điểm văn hóa – xã hội riêng biệt. Việc lấy hình ảnh một cuộc xuống đường tự phát của thanh niên Gen Z tại New Delhi (Ấn Độ) để đặt cạnh tình hình tại Việt Nam rồi đưa ra kết luận mang tính áp đặt là hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật dù diễn ra ở bất kỳ lĩnh vực nào, kể cả giáo dục đều được xem xét, xử lý nghiêm minh theo quy trình tố tụng chặt chẽ, dựa trên tinh thần “thượng tôn pháp luật”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Việc giải quyết sai phạm bằng công cụ pháp luật và bộ máy nhà nước chuyên trách là con đường văn minh, bảo đảm tính ổn định và công lý bền vững, hoàn toàn khác với việc đẩy mâu thuẫn xã hội bùng phát thành các làn sóng bạo động đường phố.

2. Chiêu trò mượn gió bẻ măng, kích động bạo loạn đường phố

Việt Tân cố tình tâng bốc hiện tượng “hơn 10.000 thanh niên xuống đường”, tô vẽ đây là “hành động văn minh” để từ đó ngầm định kích động thế hệ trẻ Việt Nam bắt chước. Bản chất của chiến thuật này là cổ xúy cho “màu sắc cách mạng”, lợi dụng các sự cố xã hội để tụ tập đông người, gây mất an ninh trật tự, tạo cớ cho các lực lượng bên ngoài can thiệp.

Thực tiễn lịch sử thế giới và khu vực đã chứng minh: những cuộc bạo động đường phố nhân danh “đòi cải cách” hay “chống tiêu cực” nếu không được kiểm soát sẽ nhanh chóng bị các phe phái chính trị cực đoan thao túng, đẩy đất nước vào vòng xoáy bất ổn, hỗn loạn, kinh tế đình đốn, và cuối cùng người chịu thiệt thòi nhất chính là quần chúng nhân dân.

II. THỰC TẾ CÔNG TÁC XỬ LÝ SAI PHẠM TRONG THI CỬ VÀ BẢN CHẤT THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM

Những luận điệu cho rằng chính quyền Việt Nam “thờ ơ” hoặc “bao che” cho sai phạm thi cử là hoàn toàn xuyên tạc, bóp méo sự thật. Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là nhìn thẳng vào sự thật, xử lý kiên quyết, công khai, minh bạch mọi hành vi tiêu cực.

1. Lực lượng Công an đã chủ động phát hiện, điều tra, và xử lý nghiêm minh các vụ án thi cử

Nhìn lại lịch sử các sự cố thi cử tại Việt Nam (như vụ gian lận điểm thi THPT Quốc gia năm 2018 tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình), Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an và Công an các địa phương đã vào cuộc vô cùng quyết liệt, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hàng loạt cán bộ, lãnh đạo ngành giáo dục, cán bộ công an vi phạm. Không hề có chuyện “tham ô còn không làm sao” hay “dây kinh nghiệm còn đó” như các tài khoản mạng xã hội phản động cố tình thêu dệt.

Hình ảnh xét xử một số bị can liên quan đến tiêu cực Kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2018

Đối với các thông tin rò rỉ hay nghi vấn lộ đề thi, lực lượng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phối hợp cùng lực lượng An ninh chính trị nội bộ luôn khẩn trương truy vết, làm rõ động cơ, bản chất đối tượng vi phạm và xử lý công khai trước pháp luật.

Hình ảnh minh họa

2. Giải quyết triệt để bằng cơ chế pháp lý thay vì tâm lý đám đông

Sự khác biệt trong cách hành xử tại Việt Nam chính là tính tuân thủ pháp luật và tinh thần trách nhiệm trước nhân dân. Khi phát sinh sự cố, giải pháp tối ưu không phải là xuống đường gây tắc nghẽn giao thông, đập phá hay đình trệ các hoạt động xã hội, mà là:

– Triển khai ngay các quy trình kiểm tra, thanh tra chuyên ngành giáo dục và điều tra xử lý sai phạm, tiêu cực của lực lượng Công an.

– Rà soát, hủy bỏ kết quả đối với các trường hợp gian lận, trả lại sự công bằng cho các thí sinh học thật, thi thật.

– Hoàn thiện quy chế thi, ứng dụng công nghệ bảo mật cao để bịt kín mọi lỗ hổng trong các kỳ thi tiếp theo.

Đây chính là phương thức quản trị quốc gia hiện đại, văn minh, bảo vệ lợi ích hợp pháp của đa số quần chúng nhân dân thay vì chạy theo cảm xúc bộc phát của đám đông bị thao túng.

Hình ảnh một số thí sinh tham gia các kỳ thi

III. CẢNH GIÁC TRƯỚC “BẪY TÂM LÝ” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên là đối tượng trọng điểm mà các tổ chức phản động như Việt Tân hướng tới để lôi kéo, kích động. Bằng việc gieo rắc tâm lý hoài nghi, bất mãn, so sánh lệch chuẩn, chúng muốn biến sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ thành công cụ chống phá.

Hình ảnh đoàn viên thanh niên tham gia hàng ngũ Đảng, tích cực thi đua yêu nước

Người dân và thanh niên cần tỉnh táo nhận diện các công thức giật gân, độc hại mà các trang phản động thường xuyên áp dụng: Dùng tiêu đề gây sốc, giật gân tạo cảm giác bất an, hoảng loạn xã hội (“Thế mới gọi là thiên đường”, “Tham ô còn không làm sao…”); Đánh tráo bản chất biến vi phạm cá nhân thành lỗi của toàn bộ hệ thống thể chế; Kích động hành vi vi phạm pháp luật: Xúi giục xuống đường biểu tình, bạo động dưới chiêu bài “đòi công lý”.

Bài viết của tổ chức phản động Việt Tân về cái gọi là “Bê bối thi cử giống nhau, cách hành xử khác nhau” thực chất chỉ là một chiêu trò “bình mới rượu cũ”, cố tình đánh tráo khái niệm nhằm kích động tư tưởng bất mãn, gây mất an ninh trật tự tại Việt Nam. Không thể lấy sự hỗn loạn bộc phát của biểu tình đường phố ở nước ngoài làm tiêu chuẩn cho sự minh bạch hay văn minh.

Sự vững mạnh của thể chế chính trị và tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam được thể hiện ở khả năng tự điều chỉnh, kiên quyết xử lý sai phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân bằng con đường pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước hiệu quả. Lực lượng Công an nhân dân luôn sát cánh cùng ngành Giáo dục và toàn xã hội, quyết tâm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và sự bình yên của nhân dân.

BT




PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ DÂN CHỦ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Trước sự vươn mình lớn mạnh của đất nước Việt Nam, những kẻ mưu đồ cáo chung chủ nghĩa xã hội hiện thực, thường xuyên tung ra các luận điệu xuyên tạc hòng phủ nhận vị thế lãnh đạo chính trị và tính đúng đắn trong các đường lối, quyết sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó chúng đưa các luận điệu: Nhất nguyên chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo là độc tài, không dân chủ; Kinh tế nhiều thành phần thì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… Việc tiếp tục nhận diện và đưa ra các luận cứ phản bác thuyết phục, sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, bàn về dân chủ

“Dân chủ” vừa là một hệ giá trị, vừa là một chế độ chính trị, với tính cách là một hệ giá trị, thì dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn, là kết quả của quá trình đấu tranh nhằm đạt đến quyền tự do, bình đẳng và phẩm giá con người. Với tính cách là một chế độ chính trị, “dân chủ” là chế độ thừa nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, tuỳ theo mỗi chế độ xã hội mà “nhân dân” được định danh theo những đối tượng khác nhau, nên dân chủ đúng nghĩa nhất phải  theo cách quan niệm của V.I. Lênin, đó là “sự thống trị thuộc về đa số”[1].

Đa nguyên, đa đảng, thật ra về bản chất đó là sự phân tách các lực lượng trong xã hội thành nhiều nhóm khác nhau, mỗi đảng sẽ đại diện cho lợi ích của nhóm xuất thân, và xét đến cùng, dù cho đảng nào nắm quyền lãnh đạo xã hội thì cũng không vượt lên được lợi ích cục bộ của bản thân. Nếu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mang lại dân chủ thực sự (tức quyền lực thuộc về đa số), thì làm sao có việc thay đổi đảng cầm quyền sau các lần bầu cử ở nước Mỹ và các nước tư bản khác trên thế giới, chưa kể những bất ổn chính trị và hệ luỵ của những hoạt động tranh cử giữa các tổ chức đối lập gây ra cho dân chúng và xã hội. Một hệ thống chính trị dân chủ hay chuyên quyền, độc đoán, không nằm ở việc có một hay nhiều đảng đối lập, mà điều cốt yếu là đảng đó đại diện cho ai (thiểu số hay đa số).

Cần phải khẳng định: Nhất nguyên chính trị dưới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu khách quan của lịch sử, và là sự thể hiện đầy đủ nhất của nền dân chủ: “sự thống trị thuộc về đa số”:

Tính tất yếu khách quan của nhất nguyên chính trị dưới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở Việt Nam, đã được lịch sử cách mạng chứng minh: Dưới ách cai trị tàn độc của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng, dưới ngọn cờ lãnh đạo của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau đã liên tục nổ ra. Không biết bao nhiêu máu xương của những người Việt Nam yêu nước đã đổ, nhưng tất cả đều thất bại, tất cả đều bị dìm trong bể máu. Con đường đấu tranh giải phóng dân tộc rơi vào khủng hoảng, bế tắc. Nhưng kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Rõ ràng đòi hỏi của nhiệm vụ: dân tộc giải phóng và thống nhất tổ quốc của Việt Nam, đã chứng minh năng lực, trí tuệ, vai trò của Đảng ta trong việc giải đáp những câu hỏi của lịch sử.

Đảng Cộng sản cầm quyền duy nhất ở nước ta hiện nay, không chỉ bởi công lao của Đảng trước những nhiệm vụ lớn nhất của quốc gia dân tộc; mà còn là kết quả vận động tất yếu theo quy luật “cái gì tồn tại thì hợp lý, cái gì hợp lý thì tồn tại”. Bởi đã có thời kỳ ở nước ta, bên cạnh Đảng Cộng sản, có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cùng hoạt động, nhưng sau hơn 40 năm tồn tại, đến năm 1988, cả hai đảng trên đã tuyên bố tự giải tán vì nhận thấy sứ mệnh không còn. Sự tự chấm dứt hoạt động của hai đảng Dân chủ và Xã hội đã khẳng định cho tính không phù hợp của chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam.

Nhất nguyên chính trị dưới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta là sự thể hiện đầy đủ nhất của “sự thống trị thuộc về đa số” (quyền lực thực sự thuộc về nhân dân): Chế độ chính trị ở nước ta đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013: “Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân… Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[2].

Sự dân chủ của hệ thống chính trị ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc được Hiến định, mà được thể hiện rõ nét trên nhiều khía cạnh. Ở đây chỉ xin nêu một minh chứng: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc là văn bản có giá trị lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa các kỳ đại hội. Nhưng, trước khi đưa ra Đại hội để biểu quyết, Đảng ta đều gửi các bản Dự thảo văn kiện đến từng cấp uỷ, chi bộ, các đảng viên và các đoàn thể tham gia đóng góp ý kiến. Vậy hãy thử hỏi những kẻ luôn tung hô cho sự dân chủ của chủ nghĩa tư bản, của chế độ đa nguyên chính trị, liệu đã có bao giờ, họ được các đảng cầm quyền, các giới chức tư sản cho một lần thể hiện quyền dân chủ tương tự đó không?

Thứ hai, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thành quả lý luận quan trọng của quá trình đổi mới đất nước của Đảng

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cho đến kỷ nguyên độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước đổi mới tiến lên chủ nghĩa xã hội, cũng không có gì khác hơn là một quá trình liên tục tự phủ định biện chứng trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đặt nền móng cho những bước phát triển trong nhận thức về xây dựng mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ về sau. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định: kinh tế hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng thành công. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta đã xác định rõ: kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, đồng thời khẳng định: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được định hình rõ nét với: Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo (được cụ thể hoá trong Nghị quyết  số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước); kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác được củng cố, phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân (cụ thể hoá trong Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới); kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất (cụ thể trong Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân); kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia (cụ thể hoá trong Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài).

Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng không thực hiện đa nguyên về kinh tế:

Các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần nên phải thực hiện đa nguyên chính trị. Theo quy luật khách quan thì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, mà trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng với đặc trưng về thể chế chính trị. Ở nước ta, việc xây dựng kiến trúc thượng tầng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Những kẻ chống phá, chắc chúng không thiếu thời gian để đọc các Nghị quyết, cũng không ngu dốt tới mức thiếu trí tuệ mà không hiểu chủ trương về phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mà chúng đang cố tình che giấu đi những đột phá lý luận quan trọng đã được Đảng ta khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá VI (8/1989): “Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng… không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủ trương đa nguyên về kinh tế”[3]. Mặt khác, trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, thì kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Như vậy, rõ ràng Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng không thực hiện đa nguyên về kinh tế, nên không thực hiện đa nguyên về chính trị là hoàn toàn tuân theo quy luật khách quan, thể hiện đầy đủ bản chất quyết định của yếu tố kinh tế đối với chính trị.

Thứ ba, một cuộc cách mạng chân chính cần phải biết cách tự bảo vệ

Một trong những bài học lịch sử đắt giá, được rút ra từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô chính là việc cải tổ chính trị mắc sai lầm. Trong đó, tử huyệt lớn nhất là thay đổi Điều 6 trong Hiến pháp Liên xô: Từ “Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và là hạt nhân của chế độ chính trị, nhà nước và xã hội Liên Xô” bị sửa thành “Đảng Cộng sản Liên Xô, các chính đảng khác và công đoàn, đoàn thanh niên, đoàn thể xã hội và phong trào quần chúng khác, thông qua đại biểu của mình bầu vào Xô viết đại biểu nhân dân và các hình thức khác tham gia vạch ra chính sách của nhà nước Xô viết, công việc quản lý nhà nước và xã hội”[4].

Việc xoá bỏ vai trò lãnh đạo tối cao và duy nhất của Đảng Cộng sản đối với xã hội, đã tạo điều kiện cho các thế lực đối lập có cơ hội phát triển, phá hoại xã hội chủ nghĩa giai đoạn (1917-1991) ở Liên Xô và Đông Âu. Những kẻ chống phá chế độ cộng sản ở Việt Nam, luôn mong muốn dựng nên ở nước ta một viễn cảnh tương tự, nên chúng càng cuồng vọng trong việc đòi đa nguyên, đa đảng. Đảng ta với quyết tâm xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, càng không cho phép bản thân đi vào vết xe đổ của lịch sử, muốn vậy cần nhất quán và kiên định nguyên tắc: “Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động”[5] để ngăn chặn sự ra đời của những lực lượng hòng ngăn cản bước tiến của loài người tiến bộ.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Bộ Chính trị khoá XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị khoá XIII về phát triển kinh tế tư nhân.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.2021.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.2026.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

7. Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội.2013.

8. Báo Quân đội nhân dân (điện tử): 30 năm Liên xô sụp đổ và bài học cho Việt Nam.

BT

[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.32, tr.515

[2] Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội.2013, tr.8-9

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương, khóa VI, tr.17.

[4] https://media.qdnd.vn/long-form/30-nam-lien-xo-sup-do-va-bai-hoc-cho-viet-nam-bai-1-khi-dang-cong-san-tu-xoa-bo-chinh-minh-53205

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương, khóa VI, tr.17.




XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH – CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại những tiện ích vượt bậc, nhưng mặt trái của internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, YouTube…) và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng vô tình biến không gian mạng thành không gian cho các loại virus thông tin độc hại phát tán với tốc độ chưa từng có. Nhiều cá nhân, tổ chức chỉ vì trục lợi hoặc mưu đồ bất chính đã sẵn sàng bóp méo sự thật, dùng thủ thuật giật gân, tiêu đề câu khách để thao túng dư luận.

Nguy hại hơn, không gian mạng đang bị các thế lực thù địch lợi dụng triệt để như một công cụ để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”; tấn công vào các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước, gây hoang mang, nghi ngờ, làm xói mòn lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; kích động bạo lực, thổi bùng các vấn đề nhạy cảm nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, bên cạnh những lợi ích to lớn về kết nối và chia sẻ thông tin, không gian mạng cũng trở thành môi trường xuất hiện nhiều thông tin sai lệch, chưa được kiểm chứng, thậm chí có những nội dung xuyên tạc về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của lực lượng Công an nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ và mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo tiếp cận thông tin, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ gìn môi trường thông tin lành mạnh.

Là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, Công an nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt, cơ quan, tổ chức, cán bộ là nòng cốt).

Tuy nhiên, lợi dụng một số vụ việc cá biệt hoặc những thông tin chưa được kiểm chứng, có nhiều thông tin trên không gian mạng đã đưa ra các nhận định mang tính suy diễn, cắt ghép, quy chụp, từ đó phủ nhận những kết quả đạt được trong công tác xây dựng lực lượng, hoặc tạo ra nhận thức sai lệch về công tác cán bộ trong lực lượng Công an nhân dân. Những cách tiếp cận như vậy không phản ánh đầy đủ bối cảnh, không dựa trên các thông tin chính thống và có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của lực lượng Công an nhân dân, niềm tin của xã hội. Một trong những ví dụ điển hình cho tình trạng lợi dụng các vấn đề được xã hội quan tâm để phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc hoạt động của lực lượng Công an nhân dân là các thông tin liên quan đến việc triển khai Đề án 06:

Trong thời gian qua, khi lực lượng Công an triển khai Đề án 06, cấp căn cước công dân gắn chip và ứng dụng VNeID, trên một số trang mạng xã hội, tài khoản ẩn danh và các trang phản động đã đăng tải nhiều thông tin sai sự thật như: “Công an thu thập dữ liệu cá nhân để theo dõi người dân”, “VNeID là công cụ giám sát mọi hoạt động của công dân”, hoặc “Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xâm phạm quyền riêng tư, vi phạm nhân quyền”.

Quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch thường thể hiện ở các nội dung:

– Xuyên tạc rằng lực lượng Công an nhân dân lợi dụng chuyển đổi số để “kiểm soát” hoặc “giám sát” người dân.

– Quy chụp việc thu thập, quản lý dữ liệu dân cư là hành vi xâm phạm quyền riêng tư, phủ nhận mục tiêu cải cách hành chính và phục vụ người dân.

– Lợi dụng những khó khăn, sự cố kỹ thuật hoặc vụ việc cá biệt để thổi phồng, quy kết thành bản chất của toàn lực lượng Công an nhân dân.

– Kích động người dân không sử dụng các dịch vụ công trực tuyến, không cài đặt VNeID hoặc phản đối việc cấp căn cước công dân nhằm cản trở quá trình chuyển đổi số quốc gia.

 Các nội dung này thường sử dụng hình ảnh cắt ghép, suy diễn từ một số sự cố kỹ thuật hoặc thông tin chưa được kiểm chứng để quy kết, tạo tâm lý hoang mang, làm giảm niềm tin của người dân đối với chủ trương chuyển đổi số của Nhà nước và lực lượng Công an nhân dân.

Thực tế, các thông tin trên không có căn cứ, mang tính suy diễn và bóp méo bản chất của việc xây dựng Chính phủ số, xã hội số. Việc triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân và VNeID được thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Do đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ và người dân cần tỉnh táo tiếp cận thông tin, chỉ tiếp nhận thông tin từ các nguồn chính thống, không chia sẻ hoặc lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Phát huy tinh thần trách nhiệm, vai trò người cán bộ, chiến sĩ CAND, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nâng cao bản lĩnh chính trị và ý thức chấp hành kỷ luật phát ngôn, chủ động cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống, không chia sẻ hoặc lan truyền các nội dung chưa được kiểm chứng. Đồng thời, khi gặp những thông tin có dấu hiệu sai lệch, cần bình tĩnh đối chiếu với quy định của pháp luật và thông tin từ cơ quan có thẩm quyền trước khi đưa ra nhận định hoặc chia sẻ.

Đối với quần chúng nhân dân, việc tiếp cận thông tin một cách có chọn lọc, kiểm chứng nguồn tin và thực hiện quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng môi trường mạng văn minh, an toàn. Những ý kiến phản biện, góp ý mang tính xây dựng luôn được tôn trọng; ngược lại, việc cố ý phát tán thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu khống hoặc xuyên tạc có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Với phương châm “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, trong thời gian tới, lực lượng Công an tỉnh Sơn La sẽ tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, gần dân, trọng dân, vì Nhân dân phục vụ; đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Bảo vệ sự thật, lan tỏa thông tin chính xác và có trách nhiệm trên không gian mạng không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chức năng mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi công dân. Chung tay xây dựng môi trường thông tin minh bạch, lành mạnh chính là góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Mỗi người dân hãy trở thành “người dùng thông minh” trên không gian mạng bằng cách kiểm chứng nguồn tin trước khi chia sẻ, tôn trọng sự thật khách quan, phát huy quyền góp ý, phản biện trên tinh thần xây dựng và tuân thủ pháp luật. Việc lan truyền thông tin không đúng sự thật không chỉ ảnh hưởng đến tổ chức, cá nhân mà còn tác động tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội và môi trường thông tin chung.

* Khẩu hiệu tuyên truyền

–  Mỗi cán bộ, chiến sĩ là một “lá chắn” bảo vệ sự thật trên không gian mạng.

–  Kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ – Trách nhiệm của mỗi công dân.

–  Lan tỏa thông tin chính xác – Chung tay xây dựng môi trường mạng an toàn, văn minh.

–  Giữ vững bản lĩnh chính trị – Nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin sai lệch.

–  Chủ động nhận diện thông tin xuyên tạc – Kiên quyết không tiếp tay lan truyền.

–  Xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

–  Thượng tôn pháp luật – Tôn trọng sự thật – Vì bình yên cuộc sống.

–  Mỗi lượt chia sẻ có trách nhiệm là một hành động góp phần bảo vệ an ninh quốc gia.

BT




KIÊN QUYẾT BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin, không gian mạng đã trở thành “mặt trận” mới, nơi các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Một trong những mũi nhọn mà chúng thường xuyên nhắm tới là lực lượng Công an nhân dân (CAND) –“Thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Những luận điệu xuyên tạc này cần phải được nhận diện rõ ràng và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

1. Nhận diện các thủ đoạn xuyên tạc trên không gian mạng

– Thủ đoạn của các đối tượng trên không gian mạng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, tập trung vào các nhóm hành vi chính:

– Bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen: Chúng lợi dụng các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, cắt ghép hình ảnh, video để vu cáo Công an “đàn áp nhân dân”, “vi phạm nhân quyền”.

– Chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Công an và Nhân dân: Xuyên tạc bản chất của lực lượng CAND, rêu rao rằng “Công an chỉ bảo vệ Đảng chứ không bảo vệ dân”, từ đó kích động tâm lý thù ghét, chống đối lực lượng thực thi công vụ.

– Xuyên tạc Luật An ninh mạng và công tác quản lý nhà nước: Rêu rao rằng việc Công an quản lý không gian mạng là nhằm “bóp nghẹt tự do ngôn luận”, “kiểm soát người bất đồng chính kiến”.

– Thổi phồng khuyết điểm cá nhân: Lợi dụng sai phạm của một số ít cán bộ, chiến sĩ để quy chụp, bôi nhọ toàn bộ lực lượng, làm xói mòn niềm tin của quần chúng.

2. Sự thật bác bỏ những luận điệu thù địch

Những luận điệu trên dù có được ngụy tạo tinh vi đến đâu cũng không thể che lấp được thực tiễn và chân lý khách quan. Lực lượng CAND “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Bản chất của Công an nhân dân Việt Nam đã được khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Lực lượng CAND không có lợi ích nào khác ngoài việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Trong thời bình, máu của các cán bộ, chiến sĩ Công an vẫn đổ. Từ cuộc chiến chống tội phạm ma túy hình sự vô cùng hiểm nguy, công tác phòng cháy chữa cháy cứu nạn cứu hộ, cho đến những ngày đêm xông pha tuyến đầu chống dịch bệnh hay bão lũ, hình ảnh người chiến sĩ Công an luôn gắn liền với sự hy sinh quên mình vì nhân dân. Đó là những minh chứng sống động nhất đập tan luận điệu “Công an đối lập với nhân dân”.

Công tác quản lý không gian mạng là bảo vệ an ninh quốc gia và quyền lợi công dân.

Không một quốc gia có chủ quyền nào trên thế giới cho phép một không gian mạng vô chính phủ. Việc lực lượng Công an tham gia quản lý, đảm bảo an ninh mạng và triển khai Luật An ninh mạng là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Mục tiêu cốt lõi của công tác này là ngăn chặn tội phạm lừa đảo trên mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân, chống lại các cuộc tấn công mạng, và làm trong sạch môi trường thông tin.

Việc xử lý các đối tượng tung tin giả, chống phá nhà nước không phải là “bóp nghẹt tự do ngôn luận” mà là thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của những công dân tuân thủ pháp luật. Không thể đánh tráo khái niệm giữa “tự do ngôn luận” và “tự do vu khống, xúc phạm, chống phá”.

Kiên quyết, minh bạch trong xử lý sai phạm nội bộ, phải khách quan thừa nhận rằng, trong một lực lượng đông đảo, vẫn có những cá nhân thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến vi phạm kỷ luật, pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm của Đảng và Bộ Công an là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Bất kỳ cán bộ, chiến sĩ nào vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh, công khai. Việc dũng cảm nhìn nhận và thanh lọc đội ngũ chính là minh chứng cho sức mạnh, sự trong sạch và tính kỷ luật nghiêm minh của lực lượng CAND, hoàn toàn trái ngược với luận điệu quy chụp “bao che”, “mục nát” của các thế lực thù địch.

3. Trách nhiệm của mỗi CBCS và công dân trên không gian mạng

Để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bên cạnh nỗ lực của các cơ quan chức năng, mỗi người dân khi tham gia không gian mạng cần trang bị cho mình “sức đề kháng” vững chắc:

– Nâng cao nhận thức: Hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tỉnh táo trước những thông tin giật gân, phiến diện, chưa được kiểm chứng.

– Trách nhiệm khi phát ngôn và chia sẻ: Không chia sẻ, lan truyền các thông tin sai sự thật, hình ảnh cắt ghép bôi nhọ lực lượng chức năng. Mỗi nút “Share” hay “Like” thiếu suy nghĩ đều có thể vô tình tiếp tay cho cái xấu.

– Ủng hộ và đồng hành: Tích cực phối hợp, cung cấp thông tin cho lực lượng Công an trong việc phòng chống tội phạm, lan tỏa những hình ảnh đẹp, những tấm gương dũng cảm của cán bộ chiến sĩ CAND.

Không gian mạng là ảo, nhưng hậu quả của những thông tin sai trái là thật. Những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng Công an nhân dân của các thế lực thù địch dù thâm độc đến đâu cũng sẽ thất bại trước thực tiễn cống hiến, hy sinh của lực lượng và tinh thần cảnh giác, đoàn kết của nhân dân. Bảo vệ uy tín, hình ảnh của lực lượng CAND không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành Công an, mà còn là trách nhiệm của mọi công dân trong việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

BT




BẢO VỆ SỰ NGHIÊM TÚC CỦA KỲ THI: KHÔNG CÓ “VÙNG CẤM”, KHÔNG CÓ “NGOẠI LỆ”

Những năm qua, công tác tổ chức các kỳ thi quốc gia tại Việt Nam luôn được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Đây không chỉ đơn thuần là một hoạt động giáo dục, mà còn là thước đo lòng tin về sự công bằng và bình đẳng xã hội. Với tinh thần cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm quy chế thi cử, trục lợi chính sách.

Tuy nhiên, lợi dụng một số vụ việc tiêu cực bị phát hiện, các thế lực thù địch, phản động liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận thành quả giáo dục và bôi nhọ hệ thống luật pháp của nước ta.

Các đối tượng xấu thường sử dụng mạng xã hội để lan truyền các quan điểm vô căn cứ sau:Xuyên tạc hệ thống, Quy kết một vài vụ việc gian lận cá nhân thành “bản chất của toàn bộ nền giáo dục”; Kích động tâm lý, phao tin cho rằng chính quyền “bao che cho cán bộ”, chỉ xử lý “phần ngọn” hoặc “thân cô thế cô”; Hạ thấp uy tín, đánh tráo khái niệm để kích động học sinh, phụ huynh mất niềm tin vào sự công bằng của xã hội.Thực chất, đây là chiêu bài “mượn gió bẻ măng” quen thuộc. Mục tiêu của chúng không phải là vì nền giáo dục, mà là kích động lòng dân, pháhoại khối đại đoàn kết và hạ thấp uy tín của hệ thống chính trị.

Trái ngược hoàn toàn với những luận điệu xuyên tạc, thái độ và hành động của các cơ quan chức năng trước các sai phạm thi cử luôn nhất quán, quyết liệt và triệt để. Minh chứng rõ ràng nhất chính là việc đưa ra ánh sáng và xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án:

Vụ gian lận thi cử năm 2018 tại Sơn La: Tại đây, một nhóm cán bộ tha hóa đã dùng thủ đoạn tinh vi, rút bài thi trắc nghiệm để tẩy xóa và nâng điểm cho 44 thí sinh. Kết quả, hàng loạt cán bộ cốt cựu của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh cùng cán bộ Công an tha hóa đã bị khởi tố và nhận những bản án tù vô cùng nghiêm khắc (mức cao nhất lên đến 21 năm tù).Toàn bộ các thí sinh được nâng điểm đều bị buộc thôi học tại các trường đại học, học viện lớn, bất kể phụ huynh của họ là ai hay giữ chức vụ gì.

Xét xử các bị cáo trong vụ gian lận thi THPT Quốc gia năm 2018 tại tỉnh Sơn La

Vụ gian lận thi cử năm 2026 tại Tuyên Quang: Khi ghi nhận hiện tượng bất thường mang tính đột biến về mặt thống kê với 146 điểm 10 môn Toán tập trung tại một điểm thi, Cơ quan điều tra đã lập tức vào cuộc khẩn trương. Chỉ trong vòng vài ngày, Cơ quan điều tra đã chính thức khởi tố vụ án và khởi tố đến 19 bị can về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Trong số đó có cả Trưởng điểm thi (Hiệu phó trường THPT Nguyễn Văn Huyên) và Thư ký hội đồng thi. Sự vào cuộc thần tốc này chứng minh cơ chế tự kiểm tra, tự thanh lọc của hệ thống giáo dục và pháp luật luôn vận hành hiệu quả.

Cả hai vụ việc cách nhau nhiều năm chính là lời khẳng định đanh thép: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có vùng đặc quyền”. Bất kể sai phạm tinh vi đến đâu, ở khâu chấm thi hay khâu coi thi, đều bị phát hiện và xử lý tận gốc.

 Nhìn thẳng vào khuyết điểm để sửa đổi là bản lĩnh của một nền giáo dục nhân văn và minh bạch. Xử lý đúng người, đúng tội, người vi phạm bị trừng trị, đảm bảo tính răn đe tối cao; Đảm bảo quyền lợi thí sinh, phương án xử lý luôn hướng tới việc bảo vệ những học sinh học thật, thi thật; Không ngừng cải tiến quy trình, đảm bảo ngày càng chặt chẽ, minh bạch, khách quan.

Việc chủ động công khai thông tin và đưa ra ánh sáng các đường dây tiêu cực không phải là biểu hiện của sự yếu kém, mà là minh chứng cho thấy quyết tâm chính trị cao độ trong việc giữ gìn sự công bằng xã hội.

 Để bảo vệ sự trong sạch của môi trường giáo dục và đập tan các âm mưu chống phá, mỗi chúng ta cần tỉnh táo trước thông tin mạng, không chia sẻ, không bình luận theo các bài viết kích động, bôi nhọ vùng miền hoặc bôi nhọ hệ thống giáo dục từ các trang mạng phản động; Tin tưởng vào luật pháp, nhìn nhận khách quan vào nỗ lực của các cơ quan chức năng; Hành động trung thực, học sinh, phụ huynh và giáo viên cùng nhau xây dựng văn hóa “học thật, thi thật, nhân tài thật”.

Sự nghiêm minh của pháp luật cùng với niềm tin, sự đồng lòng của nhân dân chính là tấm lá chắn vững chắc nhất quét sạch mọi tiêu cực và làm thất bại mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Bùi Tâm




CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LẬP LUẬN PHIẾN DIỆN VỀ KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện bài viết của đối tượng cơ hội, phần tử chống đối cho rằng “chỉ khi nào bỏ thi cử mới hết gian lận và tiêu cực”, “kỳ thi tốt nghiệp THPT là lãng phí ngân sách”, “không còn giá trị đánh giá chất lượng giáo dục”. Những quan điểm này nhìn nhận vấn đề theo góc độ cực đoan, bỏ qua bản chất và vai trò của kỳ thi trong hệ thống giáo dục.

Thứ nhất, cần khẳng định rằng ở bất kỳ quốc gia nào cũng luôn tồn tại nguy cơ xảy ra gian lận trong thi cử. Tuy nhiên, việc vẫn còn hiện tượng vi phạm không đồng nghĩa với việc kỳ thi mất ý nghĩa hay cần phải bãi bỏ. Điều quan trọng là không ngừng hoàn thiện quy chế, tăng cường ứng dụng công nghệ, nâng cao trách nhiệm của các lực lượng tham gia để hạn chế tiêu cực. Việc lấy một số vụ việc cá biệt để phủ nhận toàn bộ giá trị của kỳ thi là cách đánh giá thiếu khách quan.

Thứ hai, kỳ thi tốt nghiệp THPT không chỉ nhằm xét công nhận tốt nghiệp mà còn là căn cứ quan trọng để nhiều cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng tuyển sinh, góp phần giảm số lượng kỳ thi riêng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho học sinh, gia đình và xã hội. Đồng thời, kết quả thi còn là cơ sở để các cơ quan quản lý đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục, từ đó điều chỉnh chính sách và phương pháp dạy học phù hợp.

Thứ ba, bài viết cho rằng “99% đỗ thì tổ chức thi để làm gì” là cách suy luận chưa đầy đủ. Tỷ lệ tốt nghiệp cao phản ánh nhiều yếu tố như chất lượng dạy học được cải thiện, quá trình ôn tập, đổi mới chương trình giáo dục và sự nỗ lực của học sinh. Tỷ lệ đỗ cao không đồng nghĩa kỳ thi không còn cần thiết.

Thứ tư, lập luận cho rằng kỳ thi chỉ nhằm phục vụ “bệnh thành tích” hoặc được tổ chức vì “lợi ích” của một số cá nhân là nhận định mang tính suy diễn, không đưa ra căn cứ xác thực. Việc đặt ra những nghi vấn về hoạt động tổ chức kỳ thi nếu không có chứng cứ dễ tạo ra tâm lý hoài nghi, ảnh hưởng đến niềm tin của xã hội đối với ngành giáo dục.

Thứ năm, cần phân biệt rõ giữa việc góp ý nhằm hoàn thiện chính sách với việc sử dụng những nhận định phiến diện, quy kết để phủ nhận toàn bộ nỗ lực của ngành giáo dục, các ý kiến phản biện cần dựa trên thông tin đầy đủ, khách quan và có cơ sở.

Vì vậy, khi tiếp cận các bài viết trên mạng xã hội về giáo dục, mỗi người cần bình tĩnh kiểm chứng thông tin, đánh giá vấn đề trên nhiều góc độ, tránh chia sẻ hoặc tin theo những nhận định mang tính cực đoan, một chiều. Việc phản biện chính sách là cần thiết, nhưng cần được thực hiện trên tinh thần xây dựng, tôn trọng sự thật và hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, thay vì đưa ra những kết luận gây hiểu lầm trong dư luận.

BT




CẢNH GIÁC NHẬN DIỆN VÀ LOẠI BỎ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ “CHIẾN DỊCH 500 NGÀY ĐÊM” TÌM KIẾM, QUY TẬP VÀ XÁC ĐỊNH DANH TÍNH HÀI CỐT LIỆT SĨ

Hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn là một trong những chính sách nhân văn cốt lõi, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, ngay khi “Chiến dịch 500 ngày đêm” cao điểm được phát động hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2027), các thế lực thù địch, phản động lại tiếp tục tung ra những luận điệu xuyên tạc, hòng bôi nhọ tính nhân văn và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Nhận diện, cảnh giác và lên án các quan điểm sai trái này là trách nhiệm của mỗi công dân.

1. Nhận diện mưu đồ đen tối đằng sau các luận điệu xuyên tạc

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội nước ngoài và các tài khoản phản động, xuất hiện nhiều bài viết có góc nhìn méo mó về “Chiến dịch 500 ngày đêm”. Chúng tập trung vào một số luận điệu chính:

– Một là, bôi nhọ mục đích chiến dịch nhằm phủ nhận ý nghĩa nhân văn của chiến dịch: Chúng rêu rao rằng đây chỉ là một chiến dịch mang tính “hình thức”, “phong trào”, “làm hình ảnh” để mị dân chứ không mang lại giá trị thực tế.

– Hai là, thổi phồng khó khăn, kích động tâm lý oán hận Đảng, nhà nước: Lợi dụng con số hơn 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa tìm kiếm được, các đối tượng này cố tình đổ lỗi cho chính quyền “bỏ rơi”, “vô trách nhiệm” với người có công trong quá khứ, kích động tâm lý oán hận từ phía thân nhân liệt sĩ.

– Ba là, công kích xuyên tạc công nghệ sinh học và khoa học: Chúng tung tin thất thiệt, nghi ngờ tính chính xác của phương pháp giám định ADN, thậm chí xuyên tạc rằng việc thu thập 300.000 mẫu sinh phẩm của thân nhân là nhằm mục đích “kiểm soát thông tin cá nhân” của Bộ Công an.

– Bốn là, chia rẽ mối quan hệ quân dân: Xuyên tạc quá trình rà phá bom mìn hay quy tập tại các vùng lõi (Vị Xuyên, Huế, Nghệ An,…) nhằm gây hoang mang dư luận.

2. Sự thật lên tiếng đập tan những luận điệu xuyên tạc

Thực tế kết quả triển khai, thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm” chính là câu trả lời đanh thép nhất, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và bọn phản động:

Thứ nhất, Thực hiện chiến dịch là mệnh lệnh từ trái tim, không phải phong trào bề nổi: Chiến dịch xuất phát từ khát vọng đoàn tụ của nhân dân, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2027). “Chiến dịch 500 ngày đêm” là một cuộc chạy đua khốc liệt với thời gian. Các nhân chứng lịch sử ngày càng già yếu, địa hình chiến trường xưa thay đổi nghiêm trọng do đô thị hóa và thiên tai. Nếu không làm ngay, làm nhanh bằng tinh thần chiến dịch, cơ hội tìm lại tên tuổi cho các anh hùng sẽ khép lại mãi mãi. Đây không phải việc làm bề nổi mà là “mệnh lệnh từ trái tim” của cả hệ thống chính trị; là sự tri ân thiêng liêng, là nghĩa vụ của thế hệ đi sau đối với những người đã ngã xuống, hoàn toàn không có chỗ cho tư duy “hình thức”.

– Thứ hai, số liệu thực tế về kết quả thực hiện chiến dịch minh chứng cho nỗ lực vượt bậc: Bất chấp địa hình hiểm trở, bom mìn còn sót lại, các đội quy tập vẫn ngày đêm bám bản, bám rừng tại khắp các mặt trận trong nước và nước bạn Lào, Campuchia. Chỉ trong hơn 3 tháng đầu triển khai, 24 đội quy tập đã đưa về 1.255 hài cốt, đồng thời lấy mẫu sinh phẩm cho hơn 12.127 mộ liệt sĩ chưa rõ thông tin. Hàng ngàn hài cốt đã được tìm thấy và quy tập về các nghĩa trang trang nghiêm.

Tại Thành phố Huế: Ban Chỉ đạo 515 đã chủ động triển khai tổng lực lấy mẫu và số hóa thông tin đối với 1.456 phần mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính tại Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố. Đặc biệt, tại khu vực Cửa Chánh Tây (Kinh thành Huế), lực lượng quân sự đã ứng dụng công nghệ radar xuyên đất tầm sâu để rà quét ở độ sâu hơn 6 mét nhằm tìm kiếm một hố bom nghi chôn cất 15 liệt sĩ. Đồng thời, Thành phố Huế cũng đặt mục tiêu quy tập khoảng 80 hài cốt liệt sĩ trên địa bàn và tại hai tỉnh Salavan, Sekong (Lào).

Tại “Mặt trận biên giới” Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang): Công tác rà phá bom mìn vật nổ kết hợp tìm kiếm hài cốt được triển khai ở những vách đá, điểm cao hiểm trở nhất. Việc thí điểm lấy mẫu sinh phẩm đã được tổ chức rốt ráo ngay từ đầu tháng 6/2026 tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, Quản Bạ, Mèo Vạc nhằm rút kinh nghiệm cho toàn tỉnh.

Thu thập lấy mẫu sinh phẩm phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Tại Sơn La: Tỉnh Sơn La đã phát động toàn diện tinh thần chiến dịch với phương châm “thực hiện với tất cả tấm lòng, trái tim và trách nhiệm”. Đã tiến hành lấy mẫu sinh phẩm giám định ADN đúng quy trình, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật đối với hàng trăm phần mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính tại nghĩa trang Liệt sĩ xã Mai Sơn, phường Tô Hiệu,… Đồng thời, tập trung rà soát hồ sơ các liệt sĩ hy sinh trong các trận đánh tiễu phỉ, bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế tại các tỉnh Bắc Lào. Song song với đó, lực lượng Công an tỉnh đã thần tốc xuống từng bản làng vùng cao tổ chức thu nhận mẫu ADN của thân nhân để đồng bộ dữ liệu vào Ngân hàng gene quốc gia.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cựu chiến binh và đội quy tập tại mặt trận này là câu trả lời đanh thép nhất cho thấy Đảng, Nhà nước không bao giờ bỏ rơi những người đã ngã xuống. Những giọt nước mắt nghẹn ngào của thân nhân khi nhận lại dòng tên của cha, anh mình sau hàng thập kỷ chính là minh chứng sống động nhất, đập tan luận điệu “chính quyền bỏ rơi người có công”.

– Thứ ba, Chiến dịch áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, bảo mật và minh bạch: Để thực hiện mục tiêu giám định 18.000 mẫu hài cốt và thu nhận 300.000 mẫu ADN thân nhân, Chính phủ đã huy động những chuyên gia đầu ngành, ứng dụng các trang thiết bị hiện đại nhất như radar xuyên đất tầm sâu. Quy trình thu nhận, lưu trữ và đối chiếu gene được Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp xây dựng và thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt, bảo mật tuyệt đối dữ liệu công dân, hướng tới mục tiêu duy nhất đó là “Trả lại tên cho anh hùng”.

3. Trách nhiệm của mỗi chúng ta

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về “Chiến dịch 500 ngày đêm” không chỉ là bảo vệ nền tảng tư tưởng, mà còn là bảo vệ danh dự của các anh hùng liệt sĩ, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần:

– Một là, tỉnh táo trước thông tin xấu độc: Mỗi người dân không tin, không nhấn “thích” (like), không chia sẻ (share) các bài viết có nội dung nghi ngờ, công kích chiến dịch quy tập.

– Hai là, tích cực lan tỏa năng lượng tích cực: Chúng ta nên chia sẻ rộng rãi các câu chuyện cảm động, hình ảnh thiêng liêng của các chiến sĩ đội quy tập, các thông báo tìm thân nhân liệt sĩ từ các nguồn báo chí chính thống như: Cổng thông tin Chính phủ, Báo Quân đội nhân dân,…

– Ba là, kiên quyết đấu tranh: Mỗi tổ chức, cá nhân hãy sử dụng số liệu chính thống về số lượng hài cốt đã tìm thấy, số mẫu ADN đã lưu giữ để bình luận phản bác trực tiếp dưới các bài viết có góc nhìn tiêu cực. Chủ động sử dụng các tính năng report (báo cáo vi phạm) đối với các tài khoản, hội nhóm tung tin xuyên tạc về chiến dịch trên Facebook, YouTube, TikTok…

“Chiến dịch 500 ngày đêm” là biểu tượng cho lương tri, đạo đức và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam, hợp với ý Đảng, lòng dân. Mọi âm mưu, ý đồ sử dụng luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và bọn phản động nhằm chống phá chiến dịch chắc chắn sẽ bị lòng yêu nước của nhân dân ta nhận diện và loại bỏ. Chúng ta cùng tin tưởng rằng: Khi Nhân dân ta đồng sức, đồng lòng thực hiện chiến dịch như tinh thần chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Đại tướng Phan Văn Giang “Tập trung thực hiện quyết liệt, bằng mọi cách, huy động tối đa các nguồn lực, quyết tâm hoàn thành thắng lợi chiến dịch” chắc chắc “Chiến dịch 500 ngày đêm” sẽ thắng lợi.

BT




CẢNH GIÁC VIỆC LỢI DỤNG TÌNH HÌNH MƯA, NGẬP ÚNG ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trong tháng 7/2026, trên không gian mạng xuất hiện nhiều bài viết phản ánh tình hình mưa, ngập úng tại các tuyến đường giao thông của một số tỉnh thường chịu ảnh hưởng như các tỉnh miền núi phía Bắc, miền trung Tây Nguyên. Lợi dụng tình hình này, các đối tượng cơ hội, phần tử chống đối đã cắt ghép phát biểu của lãnh đạo ngành xây dựng, sử dụng ngôn từ mỉa mai, quy chụp nhằm công kích chính quyền, phủ nhận nỗ lực của các cơ quan chức năng và kích động tâm lý bất mãn trong dư luận, chĩa rẽ niềm tin của nhân dân với cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước.

Thứ nhất, cần nhìn nhận rằng hiện tượng ngập úng sau mưa lớn là vấn đề không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn xuất hiện tại nhiều đô thị lớn trên thế giới khi lượng mưa vượt quá năng lực tiêu thoát của hệ thống hạ tầng trong một khoảng thời gian ngắn. Việc phản ánh thực trạng ngập là cần thiết, song cần đánh giá khách quan trên cơ sở điều kiện thời tiết, hạ tầng đô thị, lưu lượng mưa và các yếu tố kỹ thuật.

Thứ hai, bài viết trên mạng xã hội đã cố tình khai thác cách dùng từ “dềnh nước” để tạo tiếng cười, sau đó suy diễn thành việc cơ quan quản lý “né tránh”, “đánh tráo khái niệm” hoặc “che giấu thực trạng”. Đây là phương thức thường thấy của thông tin xuyên tạc: lấy một chi tiết ngôn ngữ, thổi phồng thành vấn đề bản chất nhằm dẫn dắt người đọc đến những kết luận tiêu cực không có căn cứ. Trên thực tế, việc đánh giá mức độ ngập, nguyên nhân và giải pháp khắc phục phải dựa trên các tiêu chuẩn chuyên môn và số liệu thông số kỹ thuật.

Thứ ba, những bài viết mang tính châm biếm cực đoan thường không dừng lại ở việc phản ánh hiện tượng mà còn làm suy giảm niềm tin của người dân đối với cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước. Thay vì phân tích nguyên nhân, đánh giá trách nhiệm và đề xuất giải pháp, các bài viết này tập trung vào việc chế giễu cá nhân, sử dụng ngôn từ cảm tính để tạo hiệu ứng lan truyền, từ đó kích động tâm lý bức xúc và phủ nhận toàn bộ nỗ lực của chính quyền trong công tác phòng, chống ngập úng.

Thứ tư, việc góp ý, phản biện đối với hoạt động quản lý nhà nước là quyền của công dân, tuy nhiên cần dựa trên thông tin đầy đủ, khách quan và có căn cứ. Những hạn chế trong công tác phòng, chống ngập úng cần được cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, khắc phục. Đồng thời, mỗi người sử dụng mạng xã hội cũng cần tỉnh táo trước các bài viết cố tình dẫn dắt dư luận bằng lối diễn đạt mỉa mai, cắt ghép phát biểu hoặc quy kết thiếu căn cứ.

Vì vậy, mỗi người dân cần phân biệt rõ giữa phản ánh, góp ý mang tính xây dựng với những nội dung lợi dụng sự cố, tình hình thiên tai ngập úng để công kích, xuyên tạc và kích động trên không gian mạng. Việc tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn chính thống, kiểm chứng đầy đủ trước khi chia sẻ sẽ góp phần hạn chế sự lan truyền của các thông tin sai lệch, giữ gìn môi trường thông tin lành mạnh và khách quan.

BT